Nhân điện và Bộ não con người
668 người đã xem · Bình luận ·

Nhân điện và Bộ não con người

Trong sự hình thành và duy trì sự sống, sự sáng tạo trong vũ trụ được tiến hành qua 2 hình thức: sinh hóa và chuyển hóa tiến hóa). Đây là 2 chức năng mầu nhiệm do sự tác động của Năng lượng Vũ trụ
NỘI DUNG CHI TIẾT

       Trong sự hình thành và duy trì sự sống, sự sáng tạo trong vũ trụ được tiến hành qua 2 hình thức: sinh hóa và chuyển hóa tiến hóa). Đây là 2 chức năng mầu nhiệm do sự tác động của Năng lượng Vũ trụ. Thể xác muôn loài được sinh ra, qua thời kỳ tăng trưởng thành niên rồi thể xác bị lão hóa và bị hủy hoại đi. Nhưng thể xác chứa đựng bên trong nó cái linh hồn bất tử bất diệt, linh hồn được sinh ra từ nguồn sáng của Thượng Đế nên có sự sống và tiến hứa mãi trong dạng có thể xác (hữu hình) hay không có thể xác (vô hình). Sự tiến hóa của linh hồn bằng một yếu tố quan trọng là Đạo tỉnh. Con người có được bộ não đã trải qua quá trình phát triển lâu đời, khi linh hồn tiếp nhận một cơ thể con người với bộ não tinh vi, nhờ việc sử dụng các giác quan, trực giác của bộ óc mà thể xác cảm ứng được sự thiêng liêng, cho nên Đạo tính được khám phá, Nhân điện và linh giác, linh kiến được phát triển qua sự nghiên cứu học hỏi trong tôn giáo hay các phương tiện tâm linh. 

A. SỰ TIẾN HÓA CỦA BỘ NÃO:

        Khoa giải phẩu học đã tiết lộ rằng não bộ con người đã trải qua nhiều thời kỳ tiến hóa, bắt đầu từ trong nước. Hai nhà bác học chuyên về não bộ ở National Institutes for Mental Health gần Washington, D.C. Building đã thừa nhận rằng bộ não loài người phát triển qua 3 tiến trình chuyển hóa từ loài bò sát, loài động vật có vú sang loài người. Khi loài cá phát triển một cái ống dẫn những dây thần kinh từ cuối thân lên trung tấm điểm lồi ra ở đỉnh xương sống gọi là cuống não (brain stem), và những dây thần kinh được sắp xếp theo những đơn vị riêng biệt, một số tế bào thần kinh này có tính nhạy cảm với các phân tử nên kết hợp lại thành smell brain, một số tế bào thần kinh khác có cảm tính với ánh sáng nên hợp thành mắt. Tất cả những tế bào thần kinh còn lại kết hợp thành Tiểu não (cerebelium). Sự phối hợp này đã tạo nên phần căn bản cho bộ não của loài bò sát (reptilian brain), các khoa học gia tìm thấy bộ não căn bản này từ trong những loài bò sát tiền sử còn lưu lại như: rùa, cá sấu, thằn lằn ngày nay. Cuống não và tiểu não của loài bò sát là hạ não của loài người, có bản năng cơ bản điều khiển một đời sống thô sơ như: cân bằng hơi thở, nhịp tim, cảnh cáo có thủ dữ, hay con mồi, v.v.. 

        Từ loài cá chuyển hóa thành loài bò sát, đi từ biển lên đất liền, tới sinh sống gần cây và chuyển thành động vật có vú, trải qua sự thích nghi mỗi trường như nhiệt độ, trọng lực khác nhau giữa biển và mặt đất. Cách nay khoảng 200 triệu năm, khi một số loài bò sát chuyển hóa sang bộ não của loài động vật có vú thì Hệ bản tính (limbic system) được thành lập. Qua thời kỳ này, bộ não có thêm những đơn vị mới: Đồi não (thalamus) đảm nhiệm sự quan sát, khứu giác và nghe; Hạch hạnh nhân (amygdala) và Chân hải mã (hippoc- ampus) tạo nên hệ thống ghi nhận ký ức;và Đồi não dưới (hypothala mus) có khả năng phản ứng mọi sự kích thích của mỗi trường. 


         Đây là một hệ thống phức tạp các đường huyết mạch và hệ thần kinh trong não, bao gồm nhiều nhân khác nhau, tuyển tùng xuất hiện giữa não (theo triết lý gia người Pháp: René Descartes 1596-1650 thì tuyến tùng là nơi ngự trị của tâm linh nếu dược khai triển). Tuyển yễn cân bằng mọi sinh hóa nội tiết trong cơ thể. Các hoạt động của não bộ động vật được xem là vô ý thức (unconscious), chỉ liên quan đến sự sinh tồn như tìm thức ăn, chiến đấu, vấn đề sinh lý, bảo tồn nòi giống (sinh sản, chăm sóc con cái), sự biểu lộ xúc cảm: sợ hải, giận dữ và khoan khoái. Hệ bản tính tức phần não động vật có vú được cuộc tròn lại nằm chính giữa não loài người gọi là Trung não (Paleomammalian). Phần trung não này tương tự như bộ não loài chuột, thỏ, căng-ga-ru (kanga- roo), ngựa,... 
        Bằng sự chuyển hóa trong hàng trăm triệu năm, những tổ chức của bộ não được thay đổi dần bên trong xương sọ. Đó là sự kiến trúc của những sợi kinh mạch chất thành từng lớp, những loại tế bào thần kinh được tu sửa lại để sử dụng bằng nhiệm vụ khác trong não bộ loài người. Một thể sừng rộng do các mô thần kinh (Corpus callosum, nơi đây chứa khoảng 300 triệu tế bào) là chiếc cầu nối tiếp hai bán cầu não phía trên thông tin với trung não (Limbic system) phía dưới. 


      Hai bán não chính của loài người tiếp nhận những tín hiệu từ trung não rồi phân phối: Phần não từ LX 7 xuống gần ót sẽ phân tích cảm giác rồi báo cáo trung tâm điều khiển ở vùng LX 6, mệnh lệnh được đưa ra từ LX 6 để phần não từ LX 7 trở ra giữa mỏ ác hành động nhiêm vụ.

        Vỏ thượng não bắt đầu thành lập cách nay 50 triệu năm, gồm những tế bào đặc biệt được xếp vào thành những trung tâm riêng biệt mang nhiệm vụ khác nhau như trung tâm thị giác, trung tâm điều khiển sự vận động, trung tâm cảm giác và kiến thức, v.v... Phần thượng não đáp ứng cho những nhu cầu phán xét, quyết định trên tất cả những sự việc thông tin đưa đến từ thế giới bên ngoài và bên trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu cho rằng phần thượng não ngay đỉnh đầu là vị trí để phát triển khả năng của lý trí, siêu ý thức. 


Tuy vậy, não bộ không phải là công cụ được sáng tạo cho sự suy nghĩ, vấn đề ngôn ngữ, sự nhận thức và sự thông thái thì chỉ là một phần rất nhỏ (khoảng 1 tỉ tế bào thần kinh sử dụng được trong khi khoa học biết rằng võ thượng nào gồm khoảng 14 tỉ tế bào thần kinh kết hợp, 13 i tế bào còn lại thì con người chưa có khả năng khai thác). 

Tóm lại, những tầng tế bào não đầu tiên và những cơ cấu não cao hơn cùng chia xẻ nhau trong một đầu óc, cùng sử dụng chung hệ thần kinh, và sự cung cấp máu. Theo luận đề của hai ông Maclean và Arthur Koestler thì sự thành lâu não bộ con người có điểm sai trái, vì thượng nào gồm hai bán não phân đôi hội tụ, do đó nó luôn bị nguy cơ đè nặng giữa sự phân chia của lý trí và tình cảm, sự kết hợp không tương xứng giữa bộ não mới và hai bộ não cũ. Điểm sai trái này hướng cho con người giải quyết mọi vấn dề theo quan niệm độc tài hơn là thừa nhận mọi việc trên chiều hướng sinh tồn và tiến hóa. Điều này đưa nhân loại vào đường phân đôi và bế tắc, làm trì hoãn sự tiến hóa của muôn loài và cùng mang lấy số phận diệt vong. 

Theo lý thuyết của Julian Jaynes, một giáo sư chuyên về tâm lý học ở Princeton, ông dựa vào nhiều cuộc thử nghiệm, kết quả cho thấy rằng: Bán não bên phải hoạt động trong những chiều hướng phù hợp Thượng Thiên như: Không thời gian, tít tắt, khả năng trực giác, khả năng tư tưởng, kết hợp tình người, nhiệt tình. Sự phát triển của bán não bên phải giúp người đạt mục dích trên những đồ án cao thượng, giúp nghiên cứu về sự tự nhiên và thiêng liêng, âm nhạc, sự hài hòa, những điều thần diệu, tôn giáo, v.v... Trong khi bán não bên trái là những vùng của lý trí, chuyên về tính toán, phát ngôn, phần tích, thoái hóa, dẫn chứng lý lẽ, định thời gian, tính dứt khoát. Từng phần của 2 bán não chính được nối nhau bằng những sợi dây thần kinh chéo từ phần trước của bán não này sang phần sau của bán não kia để liên lạc giữa hai phần của thượng não, giúp 2 bản não một số hoạt động tương ứng nhau. 

Nhưng cuối thời kỳ khoảng chừng 500 năm cách nay, bộ não loài người đã thay đổi rất nhanh đưa đến tình trạng thiếu cân bằng. Nguyên nhân của những chứng bệnh tâm thần, (schizophrenic) là do sự mất quân bình giữa hoạt « động của thượng não và hai bộ não cũ (trung não và hạ não). Những chứng động kinh (epi lepsy) là do thể sừng (the corpus callosum) chắn giữa thượng não và trung não bị tổn thương, làm : trở ngại sự liên lạc giữa 1 trong 2 bán não trên : với phần não dưới (trung não). Những vấn đề xung đột đã xảy ra giữa hai phương pháp để giải quyết tình huống đó. Những bác sĩ tâm thần đã giải thích theo những dẫn chứng khoa học và những kỹ thuật y khoa. Trong khi những tôn giáo chính thì có thể chia xẻ bằng những phương cách mà khoa học cho là thần thoại hay mê tín. Do đó, sự giáo hóa của xã hội loài người được phân chia 2 đường rõ rệt giữa sự nghiên cứu khoa học và tâm linh. Tất cả triển vọng văn minh tiến bộ của loài người dựa vào hai nền tảng bằng sự chứng minh hợp lý hay là bằng sự giác ngộ. Hai vấn đề lớn lao càng lúc càng chi phối sâu sắc trong ý thức nhân loại. 


B/ SỰ THỐNG NHẤT BỘ NÃO:

1. Con mắt tâm linh trong đồng bạc Mỹ:

Đó là hình ảnh một con mắt phải đặt trên định hình kim tự tháp 4 mặt, tượng trưng cho nền tâm linh tối cổ Ai Cập, cũng là xuất phát từ nền văn hóa cổ đại Atlantis. Con mắt phải biểu hiện cho Thượng Đế, nhắc nhở nhân loại sự ý thức, bằng việc thực hiện những nghi thức của các đạo giáo để tiếp xúc với những dòng điện thiêng liêng. Con mắt tượng trưng cho sức mạnh tâm linh mà một quốc gia biết tôn trọng “in God we trust” như một lời tuyên thệ của cả dân tộc đối với Thượng Đế và hoạt động theo chiều hướng thống nhất (như hình ảnh KTT đi lên cao là xã dần vật chất). Theo sự nghiên cứu của các nhà thần kinh học thì những sự luyện tập thiền định bí truyền của các đạo giáo, dòng điện mà họ tiếp thu được tập trung nhiều ở bản não phải, làm mất tác dụng của bán não trái dần


2. Thiên nhãn trong đạo Cao Đài:

Đó là hình ảnh một con mắt trái tỏa hào quang chung quanh. Thời kỳ 2000 năm, các bí pháp luyện đạo bị bế tắt, sau một phần tư đầu tiên của thế kỷ 20, Thượng Đế ban trả lại cho nhân loại cái “thần” để luyện tập tam bửu đoạt đạo. Thượng Đế dạy: “Thần cư tại nhãn”, nhãn đây không phải là con mắt phàm mà là con mắt thiêng liêng. con mắt thứ ba vô hình tức là Huyền Quan Khiếu. Người tín đồ Cao Đài nếu chỉ tập trung sự thiền định thì cảm nhận điện năng tập trung ở bán não trái. Thực tế, các Đấng thiêng liêng cao cả đã truyền điển, ban dạy những phương pháp bí truyền để hướng dẫn người tín đỗ Cao Đài tự khai mở 2 huyệt đạo chính là luân xa 6 (huyền quan khiếu) và luân xa 7 (vùng siêu ý thức). Nhưng ít người thực hiện được vì những luật lệ giáo điều khắc khe giới hạn. 

3. Nhân điện - phương pháp thống nhất bộ não chánh và 2 bộ não phụ:

Nhằm phát triển khả năng siêu ý thức và những tiềm năng đặc biệt của bộ não để nhân loại có thể thực hiện lòng từ bi thật sự, minh triết và giác ngộ thật sự, giúp đỡ lẫn nhau và muôn loài, ngay cả giúp cho quả địa cầu cùng nhau tiến hóa, đưa con người ra khỏi những ý tưởng lẩn quẩn của bản ngã, vị kỷ, cá nhân. Một số người bắt đầu nhận thức được con đường Đại Đạo là phải dấn thân thực sự bằng cuộc hành trình từ bên trong chính cơ thể mình. Mỗi người là một tiểu vũ trụ, làm sao chúng ta có khả năng thu nạp cái năng lượng siêu nhiên của đại vũ trụ để phát triển những tiềm năng của não bộ và hệ thần kinh tạo thành nhân điện. Sự luyện tập càng nhiều thì cường độ nhân điện càng tăng. Thầy Đảng nhấn mạnh rằng:“Nhân Điện sẽ hướng dẫn bộ não chánh của loài người điều khiển 2 bộ não phụ (thay vì 2 bộ não phụ điều khiển bộ não chính)”. Bước đầu tiên là sự khai mở hệ thống luân xa để con người tiếp thu được những dòng điện thiêng liêng luân lưu qua hệ thần kinh não bộ và tủy sống (the cerebrospinal system). Hệ luân xa là một hệ thống tiếp thu điện năng, biến diện và phát điện (electrical energy), những luân xa là những tụ điểm vô hình của điện và sự sáng trong cơ thể loài người, hướng dẫn chúng ta sự hướng thượng và thực hiện cái chân lý tuyệt đối bằng sự phát triển siêu ý thức của luân xa 7. Xuyên qua những tế bào thần kinh, điện năng được dẫn truyền và cung cấp cho những bộ phận trong cơ thể giúp sự sinh hóa điều hòa, hết đau bớt bệnh. Luân xa 6 ở phần thượng não khi hoạt động, điện năng truyền qua tiểu não, cơ quan có chức năng phát huy tiềm thức, tiếp giáp với cuống não. Nếu một người luyện đạo đúng mức theo phương pháp siêu nhập định, siêu thiền định của bộ môn Nhân điện, thì luân xa 7 trở thành một đóa hoa sen gồm ngàn cánh hoa của sự sáng và điện, bao trùm từ đỉnh đầu tới hết chu vi thượng não. Điện năng và sự sáng cân bằng, hài hòa mọi hoạt động của thần kinh hệ, giúp chúng ta điểu khiển ba bộ não phát triển Đạo tính trên lãnh vực tâm linh như sau:

+ Thượng não: Phát triển khả năng siêu ý thức mà đạo giáo gọi là lậu tâm thông qua LX7 và kích hoạt trung tâm kiến thức thành khả năng linh cảm, và linh kiến tại LX 6.

+ Trung não: Phát triển sự xúc cảm, tình thương chân thật (true love) nhờ các giác quan.

+ Hạ não: Phát triển những mật mã và bản năng căn bản nhờ sự kích hoạt của LX 5, LX 4,LX 3, LX 2, LX 1


Phương pháp tâm sinh lý hợp nhất của bộ môn Nhân Điện có lẽ là một hình thức mới giúp sự liên lạc giữa luân xa 1 và hệ thống não tủy? vì kinh nghiệm đầu tiên, một kết quả sơ khởi là cảm giác luồn năng lượng nóng luân lưu giữa vị trí LX 1 và LX 2, sau đó vùng LX 6 rung (vibrate) khiến cơ thể rất thoải mái và nhẹ nhàng. Sự nghiên cứu về sau thì người sử dụng cản nhận dòng điện ấm luân lưu từ LX 2 lên dọc cột sống làm ẩm phần tiểu não, trung não và thượng não, toàn bộ não như được bao trùm bởi một cái nón đan bằng năng lượng. 

Kết quả của vấn đề Tâm Sinh Lý Hợp Nhất:

Dựa theo kinh nghiệm sinh lý học của bác sĩ người La Mã tên Galen (A.D. 129-199). Ông tin tưởng rằng dịch não tủy (cerebrospinal fluid) là một loại dung dịch gồm những tinh chất: đường (glucose), muối, chất xúc tác (enzymes) và một vài bạch huyết cầu...nhưng đây là dung dịch có nhiệm vụ thuộc về tâm linh (psychic fluid).

Do tác dụng NLVT từ LX 6 được truyền vào bộ phận liên quan LX 2 kích hoạt nguồn năng lượng ở LX 1 kết hợp với tinh chất và khí (the psychic fluid trong cột sống và những não thất) tạo thành luồn điện tâm linh nghịch chuyển từ dưới lên xuyên qua hạ nào, tích tụ ở trung não nuôi dưỡng những tế bào trung não làm hộp tâm linh phát sóng từ 2 điểm của tuyến yên và tùng nối dài lên luân xa 6 và luân xa 7 của thượng não. Một hình thức phát điện cho kim tự tháp thật trong đầu chúng ta, và tác động hệ thần kinh giao cảm ở trung não, quân bình hệ thần kinh tự động nên nhịp tim trở nên chậm dần, khiến tinh thần nhẹ nhàng, thoải mái (sacred sensuality). Đó là sự biến đổi vật chất (tức tinh chất từ dịch não tủy) thành nặng lượng, giúp não bộ con người tăng cường sự hoạt động từ 5%-7% lên 90%-100%.

Phần thượng não là nơi hội tụ của những lực siêu nhiên và cơ thể là công cụ cho linh hồn luyện tập sự phát triển tâm linh. Nếu áp dụng đúng phương pháp thì những lực siêu nhiên trong thân thể không bị hao tán mà giúp sự kết hợp tinh-khí-thần trong con người, gẫy thích thú cho 5 giác quan, mà không làm hao tán tinh lực, thì nội lực không toát ra ngoài. Con người nếu biết sử dụng tình cảm chân thành, vui vẻ, thương yêu, hòa nhã, vị tha thì tăng khí lực, tức làm %, tăng nội lực thì lực siêu nhiên tăng. Nói một cách khác, khi lực siêu nhiên của não bộ sinh động mạnh hòa hợp với Tình, Khi, Thần bởi sự siêu thiền định bằng KTT và mô hình ăng-ten, phối hợp kỹ thuật Tâm sinh lý của bộ môn sẽ tạo ra khối nhân điện rất sáng ở trung não và kích hoạt những tế bào ở thượng não phát điện.

Đó là một phương cách hội nhập giữa con người và vũ trụ giúp con người quan sát cả hai bên trong và bên ngoài cơ thể mình bằng những linh giác nối liền với năng lượng của Thượng Đế.

Thầy Đáng thường nhấn mạnh rằng: "Thượng Đế đã nhiều lần đưa các giáo chủ xuống thế gian lập Đạo cho nhân loại được khai hóa, linh hồn và thể xác hội nhập với Thượng Đế”, nhưng vì sự chia rẽ giữa hai lãnh vực khoa học và tâm linh, thêm vào đó là sự ham mê vật chất mà con người qua nhiều thời kỳ đã bị thất bại. Nay bộ môn Nhân điện giúp chúng ta kết hợp, đoạn cuối của khoa học là tâm linh, hay sự bắt đầu của tâm linh là khoa học. Theo bác sĩ Richard Gerber thì Tây Y từ lâu chữa trị dựa trên những bằng chứng cụ thể quan sát bằng mắt hay những dụng cụ thí nghiệm được.


Mãi đến cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học bắt đầu khám phá cơ thể con người trên phương diện không gian đa chiều, và phép chữa trị mới bằng những làn rung của điện năng (Vibrational Medicine). Thầy Đáng dạy chúng ta kinh nghiệm về tâm linh như là sự thức tỉnh và hiểu biết về các Đấng thiêng liêng cao cả. Đó là tổng hợp những tinh hoa tinh vi của sự ý thức trong hiện thân con người để dần dần tâm trí mình chuyển hóa bằng những điều nhận thức về thế giới qua các giác quan và bằng tư tưởng tự do tuyệt đối. Khi ý thức hợp nhất với siêu ý thức (the st- preme consciousness) là lúc chúng ta đạt được trạng thái siêu thiền định, siêu nhập định (chúng ta có khả năng này khi truyền điện hay khi tập kim tự tháp). Chúng ta là những người có đại cơ duyên xử dụng được Nhân Điện thì sự luyện tập lâu dài giúp bộ não tụ điện càng nhiều, sức sống của thể xác dồi dào năng lực thì sự sáng của bộ não càng tăng để mở rộng những tiềm năng tâm linh như: phát huệ, lục thông, v.v... Hành giả Nhân Điện dựa vào Đời và Đạo để tu học theo cổ nhân ta có câu:“Đạo không Đời không sức, Đời không Đạo không quyền”. Đạo là biết tu để linh hồn tiến hóa. Đời là biết sử dụng huyền năng để cai quản năm châu. 

Đối với người học viên Nhân Điện có luyện tập năng lượng đúng mức thì 2 bên trái và phải của LX 7 tiếp nhận những dòng điện từ thượng thiên đưa sang vùng LX 6, để những tín hiệu được phiên dịch thành thông điệp. Bằng sự luyện tập mà chúng ta sẽ đạt được sự linh cảm và linh kiến ngày càng tinh vi hơn, tức đoạt lục thông, hay tiềm năng đặc biệt qua LX 6, cũng như mang đến sự hội nhập giữa con người và vũ trụ. Khi điện năng kích thích các tế bào não hoạt động từ 10%-100% thì những cảm giác siêu tâm và sự siêu ý thức càng gia tăng ở thượng não thay vì những yêu cầu cá nhân đưa lên từ trung não mà thôi. Đó là tại sao Thầy Đáng dạy, “Mục dịch lớp Tiềm Năng Con người là giúp bộ não chính điều khiển được 2 bộ não phụ". 

Hồng Trần